Người Lào có rất nhiều phong tục, tập quán được hình thành trong quá trình lịch sử. Những phong tục, tập quán này từ lâu đã trở thành lệ làng và được mọi người tự giác thực hiện. Một trong những phong tục tiêu biểu của người Lào là các nghi lễ trong đám tang.

1. Quan niệm của người Lào về cái chết

Cũng như một số dân tộc Đông Nam Á, người Lào chịu ảnh hưởng sâu đậm của Phật giáo, vì vậy, họ quan niệm cuộc sống của con người có nhiều kiếp và cho rằng: có hai thế giới song song tồn tại - thế giới người sống và thế giới người chết; trong mỗi con người có hai phần chính là linh hồn và thể xác, sau khi con người chết đi, các linh hồn sẽ tách khỏi thể xác và đến với thế giới người chết. Thế giới này được hình dung như một bản (làng) nhưng bị chia cắt với thế giới người sống bởi sông sâu, biển rộng. Đó là thế giới ở trên cao (các tầng trời) hay dưới lòng đất, về cơ bản, giống với thế giới người sống. Người Lào đã dựa vào thế giới thực để sáng tạo ra một thế giới hư ảo. Với triết lý đạo Phật được du nhập từ bên ngoài đã hàng nghìn năm, người Lào hiện nay vẫn quan niệm sống gửi thác về - sự sống hiện hữu chỉ tạm bợ, chỉ sau khi chết, con người mới có cuộc sống thật sự. Vì thế, người Lào luôn nghĩ về cuộc sống sau khi chết.

Người Lào coi cái chết là bước ngoặt quan trọng cuối cùng của đời người, bởi nó chấm dứt một kiếp tu nhân tích đức, chuẩn bị chuyển sang một kiếp khác. Con người nhờ kiếp này giàu công tu hành, tích được nhiều phúc đức nên kiếp sau sẽ có cuộc sống tốt đẹp hơn, sung sướng hơn, giàu có hơn. Đối với các phật tử Lào, cái chết không chỉ là sự mất mát buồn thương mà còn là hình thức giải thoát của con người từ kiếp này sang kiếp khác.

Quan niệm trên được thể hiện khá đậm nét trong các nghi thức tổ chức tang ma ở Lào. Đặc biệt là theo tín ngưỡng cổ, quan niệm về sự thống nhất và mâu thuẫn giữa các mặt đối lập như âm - dương, sinh - tử, phúc - tội dường như xuyên suốt trong các nghi thức tang ma. Người Lào cho rằng cái chết của con người gồm hai loại: chết lành (tai đi) và chết dữ (tai hãi). Người chết do già yếu, bệnh tật thông thường được coi là chết lành, nghĩa là chết hợp quy luật. Người chết không bình thường (tai xa ệp) là chết bất đắc kỳ tử (chết đuối, bị hổ vồ, cây đè, sét đánh, hoặc do những tai nạn khác…) đều được coi là chết dữ. Theo phong tục Lào, chỉ có những người chết lành mới được tổ chức ma chay đầy đủ theo nghi thức của lệ làng. Còn chết dữ được coi là bị trừng phạt do kiếp trước đã gây ra nhiều tội lỗi. Vì thế người chết dữ không được đưa thi thể về nhà mà phải làm tang lễ tại chùa, không được tắm xác; phải chôn, không được hỏa thiêu. Sau khi chôn cất, người thân thường làm lễ cầu hồn, mời sư sãi đến đọc kinh cầu nguyện giải thoát cho oan hồn. Nhưng dù cái chết lành hay dữ thì hình thức tổ chức tang ma, đối với người Lào, vẫn là dịp thể hiện tình cảm gia đình, anh em, xóm giềng; thể hiện tính hợp quần, sự hòa thuận của mỗi thành viên trong cộng đồng. Đó là một truyền thống tốt đẹp được hình thành qua bao thế hệ người Lào gắn bó bên nhau trong sản xuất, trong đấu tranh để sinh tồn và phát triển.

2. Một số nghi lễ và tục lệ trong đám tang của người Lào

Lễ trước khi chết

Khi trong nhà có người ốm nặng và đang hấp hối thì thành viên trong gia đình gọi con cháu họ hàng, xóm giềng nhanh chóng soạn mâm lễ đơn giản (có gạo, nến, hương, hoa) để người sắp vĩnh biệt kiếp này làm lễ cầu Phật lần cuối cùng trong đời. Có địa phương, con cháu mang hương hoa đến lễ và nhận mọi tội lỗi mà mình đã gây ra đối với người sắp qua đời. Người Lào cho rằng việc làm ấy sẽ khiến cho người đang hấp hối tự tin hơn ở cuộc sống kiếp sau và khi chết sẽ góp phần đem lại sự bình yên, phúc lộc và may mắn cho các thành viên trong gia đình.

Lễ khâm liệm

Trong nhà có người thân mới tắt thở, con cháu báo tin ngay cho họ hàng gần xa. Tuy đau thương nhưng người Lào không khóc lóc thảm thiết mà thường nén lòng chịu đựng, chỉ có người thân: con cái, anh, em ruột thịt, vợ, chồng của người chết ngồi xung quanh người chết mới khóc thể hiện sự thương nhớ, đau buồn, mất mát. Còn họ hàng gần xa đến viếng thì chỉ khóc lúc xem mặt. Chủ tang lễ là người thân trong gia đình, anh em thân thiết hoặc một thày pháp có uy tín trong bản. Khi anh em, bà con đến đầy đủ, người thân bắt đầu tắm cho người chết bằng nước nóng hay nước lạnh, một số địa phương có tục tắm bằng cả nước nóng lẫn nước lạnh, sau đó rửa lại bằng nước thơm (trước kia thường là nước được ngâm các loại hoa). Con cháu thường dùng nước dừa non để rửa mặt cho người chết nếu đó là ông bà, cha mẹ. Những gia đình quyền quý còn có tục dùng giấy in dấu tay, chân để thờ cúng. Tắm rửa xong, người thân lấy một cái lược mới, bẻ gẫy rồi chải đầu, một mái tóc chải ngược về phía sau, một mái chải xuôi về phía trước. Chải xong, chiếc lược đó phải đem vứt bỏ, người sống kiêng không dùng. Về khâm liệm, nếu mặc quần áo cho người chết thì phải mặc hai bộ, bộ bên trong lộn trái, bộ bên ngoài mặc bình thường. Nếu liệm bằng vải thì phải dùng vải trắng cũng quấn hai lớp, lớp bên trong, đuôi vải liệm gài phía trước bụng người chết và lớp bên ngoài, đuôi vải liệm gài phía sau lưng. Những tục trên, theo người Lào là thể hiện tính kế tục giữa cái chết và sự sống.

Khâm liệm xong, thi hài được đặt lên giường, chân tay duỗi thẳng. Con cháu lấy hương hoa để trong cái đĩa hoặc đặt lên một cái gối để bên cạnh rồi lấy nước thơm vẩy lên thi hài. Sau khi vẩy nước thơm, người thân lấy đồng tiền được mài sáng cho vào miệng người chết. Nhiều vùng ở Lào thường dùng đồng hào bằng bạc với ý nghĩa để người chết tiêu pha trên đường chuyển sang kiếp khác. Gia đình giàu sang thường dùng vàng sống để làm lễ này. Nếu người lúc sống nghiện trầu cau thì khi chết con cháu giã trầu cau cho vào miệng. Tiếp đó, người thân cầu khấn và lấy chỉ trắng buộc một vòng vào cổ, hai tay, hai chân người chết rồi thắt ba nút. Người Lào kiêng kỵ cắt chỉ thừa sau khi buộc. Sau đó người thân dùng sáp ong gắn mắt, mũi, miệng, hai lỗ tai người chết. Tục đổ sáp ong gắn liền với niềm tin là làm cho người chết được thanh thản khi chuyển sang kiếp khác, rũ bỏ mọi vấn vương của kiếp trước và dù muốn cũng không thể quay lại kiếp cũ vì đã mất hết cảm giác, không nghe, không thấy, không biết đường cũ quay về. Ngoài ra, tục buộc chỉ còn xuất phát từ quan niệm cho rằng cuộc đời mỗi con người đều bị ràng buộc bởi ba điều là vợ, con và của cải. Tục ngữ Lào đã đúc kết: “Quý con như dây buộc cổ, quý vợ như dợ buộc tay, quý của cải như vòng trói chân”.

Ở Lào, người chết dù chôn hay thiêu cũng đều dùng áo quan. Áo quan thường là thân cây gỗ đục hoặc bằng gỗ ghép. Dưới áo quan thường được lót lá chuối khô, thuốc lá sợi, gạo rang hoặc lá ớt sấy khô. Một số địa phương còn có tục làm một chiếc cầu thang nhỏ có ba bậc để trong quan tài với ý nghĩa giúp người chết lên xuống được dễ dàng. Đến ngày giờ đẹp đã chọn trước, con cháu tập trung đông đủ, sau khi các nhà sư tụng kinh, người chết được đặt vào áo quan rồi dùng nhựa cây gắn nhiều lớp thật kín và được để trong nhà từ ba đến bảy ngày. Con cháu, người thân thay nhau túc trực bên quan tài, ở hai đầu quan tài thường xuyên thắp nến hoặc đèn dầu. Hàng ngày, đến bữa ăn, con cháu đem cơm, thức ăn, kể cả thuốc lá, trầu cau đặt trên quan tài để cúng. Trong thời gian để quan tài trong nhà, hàng ngày đến giờ quy định, con cháu mời sư sãi đến tụng kinh cầu nguyện và tổ chức dâng cơm cho sư. Số lượng sư tùy theo khả năng, yêu cầu của mỗi gia đình, nhưng trong một đám tang, thường ít nhất cũng có 5 nhà sư đến tụng kinh cầu nguyện cho linh hồn người chết được siêu thoát.

Người Lào rất xem trọng hướng đặt thi hài. Người Lào xưa thường ở nhà sàn. Đó là ngôi nhà truyền thống, có mặt bằng sàn hình chữ nhật. Trên sàn có nhiều thanh ván gỗ ghép lại gọi là thanh lát sàn. Những thanh này thường nằm theo chiều ngang hình chữ nhật của sàn nhà. Ngay sau khi tắt thở, dù chưa nhập quan, hay khi đã nhập quan thì người chết luôn được đặt nằm theo chiều dọc của sàn nhà, nghĩa là nằm vuông góc với các thanh lát sàn. Người Lào kiêng đặt người chết nằm cùng chiều với giát sàn nhà vì đó là chiều nằm của người sống. Sau này, khi có nhiều người Lào ở nhà xây thì tục kiêng kỵ trên được thay đổi. Người chết, nếu trong nhà xây thì được đặt nằm, đầu theo hướng tây, chân theo hướng đông. Tuy vậy, tục này không được thực hiện nghiêm ngặt. Không ít gia đình người Lào ở nhà xây, khi có người chết, chỉ quan tâm đến việc đặt thi hài sao cho thuận tiện lúc chuyển cữu chứ không quan tâm đến hướng tây hay đông.

Khi có tang, người Lào thường ngăn nhà: phòng đặt quan tài để bà con xóm giềng, bè bạn đến phúng viếng gọi là hươn đi (nhà tang); phòng kế bên là nơi ăn uống, ngâm vịnh thơ ca, đọc (hoặc kể) chuyện dân gian, đánh bài, vui chơi thâu đêm để động viên, an ủi, mừng cho gia chủ có người được siêu thoát, đưa tiễn một thành viên trong bản làng chuyển sang kiếp khác tốt đẹp hơn. Từ lúc trong nhà có người chết cho đến khi chuyển quan tài ra nơi hỏa táng, phòng này dường như không bao giờ thiếu không khí tươi vui rộn ràng. Bởi vậy cho nên ở Lào, người đi dự tang lễ không chỉ tỏ thái độ buồn đau, thương cảm mà sau khi vào viếng và chia sẻ tình cảm cùng tang gia, còn sang phòng bên để hòa nhập cùng bà con ăn uống, hát ca. Việc tổ chức tang lễ lớn hay nhỏ tùy theo khả năng kinh tế của từng gia đình: nhà khá giả có khả năng tổ chức ăn uống linh đình thì có thể để quan tài trong bảy ngày; gia đình nghèo thì thường chỉ để trong hai ba ngày là đem hỏa táng.

Lễ đưa tang và hỏa táng

Sau mấy ngày, anh em, bà con xóm giềng đến viếng người qua đời, chia buồn cùng tang gia và dự vui chơi, người thân chuẩn bị đưa tang. Đây là nghi lễ quan trọng nhất của đám tang. Ngoài con cháu họ hàng còn có tăng lữ và xóm giềng đến dự. Nếu ông bà, cha mẹ qua đời thì thông thường con trai, cháu trai từ 7 tuổi trở lên sẽ cạo đầu đi tu 5-7 ngày hay một tháng. Theo quan niệm của người Lào, con cháu đi tu là để dẫn linh hồn người đã khuất lên thiên đàng. Con gái, cháu gái hoặc con trai không có điều kiện đi tu thì mặc áo váy màu trắng. Con cháu đi tu càng đông thì càng tích được nhiều phúc đức cho người đã khuất. Bà con, họ hàng gần, khi đi đưa tang cũng mặc quần áo trắng.

Trước kia ở nông thôn có tục người chết ở buồng nào thì đặt quan tài ở buồng ấy. Khi chuyển quan tài ra khỏi nhà, phải dỡ liếp hay ván thưng, tránh khiêng qua kèo nhà. Người Lào cho rằng, khiêng quan tài qua kèo nhà sẽ ảnh hưởng xấu đến đời sống, lao động sản xuất của con cháu. Tục kiêng kỵ này ngày càng giảm dần và ngày nay hầu như không còn nữa.

Trước khi đưa quan tài ra nơi hỏa táng, người thân mời sư tăng đến tụng kinh, mời tầy pháp đến nhà làm phép đuổi ma tà, bệnh tật. Gia chủ vẩy nước phép từ chỗ đặt quan tài ra đến hiên đầu cầu thang, ném các khăn lau bẩn lên bàn ghế, đổ hết nước trong các chum vại rồi úp miệng xuống đất. Sư tụng kinh xong, con cháu tắt tất cả đèn nến đang cháy trên quan tài, sau đó thắp lại. Theo người Lào, tục này tượng trưng cho việc chấm dứt cuộc đời của một kiếp và sự sống của một kiếp mới sẽ bắt đầu. Để chuẩn bị chuyển quan tài ra khỏi nhà, con cháu, người thân lần lượt đến vái lễ một lần nữa. Bạn bè, xóm giềng tập trung ở chân cầu thang, chờ tiễn đưa người đã khuất ra nơi hỏa táng. Đi đưa đám ma, người Lào thường mang theo hương, hoa, bó củi, cà bong, dầu hôi… Khi quan tài được chuyển xuống dưới đất, gia chủ liền đảo cầu thang, mặt trong chuyển ra ngoài và lấy một cành cây có gai buộc vào chân cầu thang trong 7 ngày. Ở cửa ra vào, gia chủ cũng dắt hai cành cây nhỏ cài vào nhau và khi khiêng quan tài ra khỏi nhà mới tháo bỏ. Tục này có ý nghĩa ngăn chặn không cho ma quỷ lên nhà quấy rầy, đồng thời để người chết không thể quay trở lại mà phải chuyển sang một kiếp khác.

Một tục lệ quan trọng không thể thiếu là con cháu đi tu cho người qua đời sẽ dẫn linh hồn và dẫn đường đưa người chết ra nơi thiêu. Con cháu đi tu trong bộ quần áo màu vàng giống như sư sãi, một tay cầm dây vải trắng đi trước, một đầu dây buộc vào quan tài, tay kia cầm đồ lễ (gồm cây chuối non, nến, hương hoa); hai bên vai: một bên đeo kiếm với ý nghĩa dẹp đường cho linh hồn người chết, bên kia đeo túi đồ với ý nghĩa để cho linh hồn người chết mang theo sang thế giới bên kia sẽ dùng.

Ở nông thôn, người Lào thường khiêng quan tài từ nhà ra nơi hỏa táng hay chôn cất. Ở đô thị có thể dùng xe do người đẩy hoặc xe hơi. Dù bằng phương tiện nào, người Lào cũng luôn chú ý để chân ra phía trước. Nếu khiêng thì không được đổi vai hoặc dừng chân ở dọc đường. Thông thường bà con xóm giềng ghé vai khiêng một mạch, từ nhà ra địa điểm hỏa táng. Dẫn đầu đám tang là các nhà sư tay cầm sợi chỉ trắng nối liền với quan tài. Tiếp sau là con cháu tay nắm vào sợi dây để cùng dẫn người đã khuất ra nơi hỏa táng. Xóm giềng, bạn bè đi sau quan tài. Đám tang từ nhà ra bãi tha ma, con cháu thường không khóc lóc than vãn mà chỉ sụt sùi để còn lắng nghe các nhà sư tụng kinh cầu nguyện. Khi đưa tang, người Lào có rắc gạo, rắc bỏng, đồng thời rải các cành cây dọc đường hoặc bẻ gãy các cành cây trên đường đi để rải.

Chọn vị trí chôn cất hay hỏa táng ở bãi tha ma, người Lào thường dùng một nắm xôi hay quả trứng tung lên, nếu rơi xuống chỗ nào thì chọn chỗ ấy làm nơi hỏa táng hay chôn cất với quan niệm thần chủ chỗ đất ấy đã chấp nhận. Trước ngày hỏa táng, con cháu, họ hàng vào rừng chặt củi chất thành dàn lớn, bốn góc đóng bốn cái cột gọi là koong phon. Trước khi đặt quan tài lên giàn thiêu, quan tài được khiêng đi quanh ba vòng từ trái qua phải. Có địa phương còn có tục lấy đòn khiêng gõ vào quan tài ba lần trước lúc đặt lên giàn thiêu. Để giữ cho quan tài không bị đổ xuống lúc hỏa thiêu, người ta dùng hai cái cột lớn, dài chôn sâu dưới đất để nẹp hai bên quan tài gọi là mạy khồm hểng.

Mở đầu lễ hỏa táng, các nhà sư đọc kinh cầu nguyện, vẩy nước phép rồi tháo sợi chỉ trắng buộc quan tài. Vải vóc, áo quần để trên quan tài cũng được bỏ ra. Con cháu, bà con xóm giềng dự lễ đều kính cẩn chắp tay trước ngực nghe nhà sư tụng kinh. Chủ tang lễ, một tay đặt xuống trước ngực, một tay cầm bình nước phép nhỏ xuống đất để dâng phúc đức cho người chết. Đây là nghi lễ có không khí trang nghiêm nhất trong các bước tổ chức đám tang ở Lào. Trước lúc vị sư châm mồi lửa vào giàn thiêu, chủ tang lễ cho tung tiền bố thí (đó là những quả mạc khụt - giống quả chấp dùng để gội đầu nhưng vỏ xù xì - những bẹ chuối cắt nhỏ thành hình thù khác nhau, bên trong nhét tiền). Trẻ em, cả người lớn đi dự đám tang đều xông vào nhặt. Họ tranh giành, xô đẩy nhau, tạo không khí hết sức ồn ào náo nhiệt. Vào lúc này, những gia đình khá giả thường làm lễ dâng tiền bạc, vải vóc cho các nhà sư dự tang lễ và tổ chức tung tiền bố thí suốt từ nhà ra nơi hỏa táng. Khi ngọn lửa trên giàn thiêu bốc cháy, những người đi dự đều góp thêm lửa nhưng không được châm lửa của nhau. Họ tự đánh diêm hoặc tự châm từ một đống lửa đã đốt sẵn ở bên ngoài. Lễ hỏa táng kết thúc sau khi củi đã cháy hết và ngọn lửa đã tắt.

Khi về nhà, con cháu thường tắm rửa, gội đầu, hơ lửa để xua đuổi tà khí hay làm lễ buộc chỉ cổ tay. Có gia đình thỉnh sư sãi đến đọc kinh cầu nguyện cho gia chủ bớt nỗi nhớ thương, tránh mọi ốm đau, bệnh tật, ma quỷ quấy rầy. Tục thiêu xác trở thành phổ biến ở Lào đối với người chết bình thường (chết lành) nhưng không phải ngày nào cũng có thể làm lễ hỏa táng. Xưa nay người Lào không làm lễ hỏa táng vào các ngày kiêng kỵ (ngày ba mươi và mồng một) hoặc vào ngày thứ ba trong tuần. Theo người Lào, hỏa thiêu vào những ngày ấy sẽ ảnh hưởng không tốt đến con cháu. Ngày giờ thiêu thường do các già làng hoặc thày pháp tính toán, quyết định. Ba ngày sau khi thiêu xác, người thân mời bà con, xóm giềng và các nhà sư ra làm lễ nhặt xương. Cùng với tiểu đất nung, nước rửa xương, tang gia còn chuẩn bị cơm nước, bánh trái để cúng hồn người chết. Chủ tang lễ khấn báo cho linh hồn người chết rằng ngày mai con cháu sẽ làm lễ khạu chẹc (lễ mời linh hồn về dự trước khi đi đầu thai sang kiếp khác). Khấn xong, những người thân nhặt xương xếp thành hình người nằm quay đầu về hướng tây, các nhà sư đọc kinh để tiễn linh hồn. Sau đó, người thân lại xếp bộ xương thành hình người nằm quay đầu về hướng đông, tượng trưng cho sự sống trong kiếp sau của người chết, các nhà sư lại tiếp tục đọc kinh. Tang lễ kết thúc sau khi các nhà sư tụng kinh cầu nguyện xong. Con cháu gạt than, tro xuống một cái hố gần nhất để chôn. Cốt của ông bà hay cha mẹ được rửa sạch cho vào tiểu sành đem về chùa chôn và có thể dựng một tháp nhỏ ở trên. Vào những ngày kiêng kỵ hoặc lễ hội, mỗi khi lên chùa nghe tụng kinh, niệm Phật, người thân thường ghé qua phần mộ này để đặt hoa, thắp nhang tưởng nhớ người đã khuất.

Ngày nay cùng với sự phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, mặt bằng dân trí ngày càng được nâng cao, đặc biệt thế hệ trẻ có điều kiện học tập, tiếp cận khoa học, kỹ thuật, dù còn nhiều nếp nghĩ, thói quen của tập tục cũ, song việc tổ chức tang lễ ở Lào đã có xu hướng tiến bộ rõ rệt, những hủ tục rườm rà tốn kém bị giảm dần, những tục lệ tốt đẹp được kế thừa và phát huy.

Tài liệu tham khảo

1. Mạha Vêthi Volakhun, Mạha Khămpăn Vilachít, Văn hóa và phong tục tập quán truyền thống Lào, Nxb Seng Su Van, Viêng Chăn, 1967.

2. Ki Đeng Phon Ka Sơm Súc, Văn hóa Lào, Nxb Pit Sa Vông, Viêng Chăn, 2006.

3. Pi Ra Da Sa Vat Vong, Nghệ thuật hoa văn cổ điển Luông Pha Bang, Nxb Quốc gia, Viêng Chăn, 1990.

Phadone Insaveang

Nguồn: Tạp chí VHNT số 338, tháng 8-2012

Theo vanhoahoc.vn (nttung)


CÁC BÀI CÙNG CHUYÊN MỤC