Thứ hai, 25 Tháng 11 2013 13:23

Bài báo Sơn La làm theo lời Bác

Sơn La – Tây Bắc một phần của lãnh thổ Việt Nam, một bộ phận của Tổ quốc Việt Nam; đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Khu tự trị Thái –Mèo là bộ phận khăng khít trong đại gia đình Việt Nam, cùng với dân tộc anh em khác đoàn kết thành một khối như ruột thịt. Nó sẽ luôn được sự giáo dục và lãnh đạo của Đảng và Chính phủ,và sự giúp đỡ của các dân tộc anh em khác” [1, tr.61].

 

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành cho đồng bào các dân tộc Tây Bắc nói chung, Sơn La nói riêng những tình cảm ân cần. Người thường xuyên viết thư thăm hỏi, tặng quà cho đồng bào; đặc biệt, đúng vào dịp kỷ niệm 5 năm chiến thắng Điện Biên phủ và 4 năm thành lập Khu tự trị Thái –Mèo (07/05/1959) Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lên thăm đồng bào các dân tộc Tây Bắc. Trong bài nói chuyện tại sân vận động Thuận Châu, Người căn dặn: “Thi đua lao động sản xuất, thực hành tiết kiệm… củng cố các tổ chức dân quân và tự vệ, làm tốt nghĩa vụ quân sự. Trong mọi công việc phải giúp đỡ đồng bào rẻo cao”.

Để đáp lại tình cảm ân cần của Người, từ năm 1954-1965 Đảng bộ và nhân dân các dân tộc Sơn La đoàn kết một lòng tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng - Chính phủ, đứng đầu là Hồ Chủ Tịch, tích cực tăng gia lao động sản xuất, thực hành tiết kiệm và đã giành được những thành tựu to lớn.

Một trong những thành tựu rực rỡ nhất mà Đảng bộ và nhân dân các dân tộc Sơn La giành được trong thời kỳ này là: từ một địa phương sau hoà bình lập lại (1954), kinh tế - xã hội hoang tàn đổ nát và còn trong tình trạng hết sức lạc hậu, đời sống của các dân tộc khó khăn thiếu thốn về mọi mặt, Trung ương phải “cứu đói”, “cứu rách” đã vươn lên tự túc được lương thực; năm 1965 sản lương thực quy thóc của tỉnh tăng trên 20% so với năm 1962, bình quân lương thực một người là 410 kg/năm - mức cao nhất từ trước đến giờ [4, tr.82]. Cơ cấu kinh tế trên địa bàn tỉnh bước đầu đã có sự biến đổi theo hướng cân đối giữa nông-lâm nghiệp và công nghiệp; đặc biệt trong nông nghiệp một số vùng sản xuất tập trung chuyên canh lớn đã được hình thành như: Mộc Châu, Mai Sơn, Sông Mã…

Hệ thống chính quyền cơ sở được củng cố tăng cường; ngày 24/12/1962 Quốc hội ra Nghị quyết lập lại tỉnh Sơn La, gồm 7 huyện và thị xã; Thủ tướng Chính phủ cũng ra quyết định thành lập Uỷ ban lâm thời tỉnh Sơn La gồm 13 đồng chí do đồng chí Cầm Liên làm chủ tịch; cùng ngày Ban châp hành Trung ương Đảng ra Quyết định thành lập Đảng bộ tỉnh Sơn La và các đảng bộ cơ sở trực thuộc. Trên cơ sở hệ thống Đảng, chính quyền cơ sở của tỉnh được tái lập, các tổ chức đoàn thể quần chúng như: Đoàn thanh niên, Hội phụ nữ, Công đoàn và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cũng nhanh chóng được kiện toàn.

Trong lĩnh vực văn hoá giáo dục và y tế có nhiều tiến bộ, đến năm 1965 ở hầu hết các xã có trường tiểu học, trung học cơ sở và nhiều bản đã tổ chức được các lớp mẫu giáo. Công tác khám chữa bệnh trong nhân dân, nhất là đồng bào các dân tộc vùng cao được chú trọng, các dịch bênh nguy hiểm như sốt rét, thương hàn, tả, đậu mùa…được ngăn chặn kịp thời. Ánh sáng văn hoá của Đảng đã lan toả đến tận các bản làng Tây Bắc xa xôi, góp phần xoá đi những tăm tối nghèo nàn trong đồng bào các dân tộc. Công tác giữa gìn trật tự an ninh xã hội được bảo đảm, các hiện tượng “xưng vua”, “đón vua” trong đồng bào dân tộc Mông và các dân tộc thiểu số vùng cao được chấm dứt.

Từ năm 1965, do những thất bại ở miền Nam, đế quốc Mĩ đã tiến hành cuộc chiến tranh phá hoại đối với miền Bắc xã hội chủ nghĩa. Với mục đích “đưa miền Bắc trở lại thời kỳ Đồ đá”, đế quốc Mĩ đã huy động những phương tiện chiến tranh hiện đại nhất lúc bấy giờ đánh phá miền Bắc với một cường độ hết sức ác liệt, cả ban ngày cũng như ban đêm; qui mô của cuộc chiến tranh thì rộng lớn toàn miền Bắc; Hà Nội, Hải Phòng và nhiều thành phố, thị xã, bệnh viện trường học, các cơ sở kinh tế, cầu cống… đã trở thành mục tiêu thường xuyên đánh phá của đế quốc Mĩ; trong đó Sơn La - thủ phủ của Khu tự trị Tây Bắc cũng bị chúng oanh tạc dữ dội.

Trong hoàn cảnh cả nước có chiến tranh, quán triệt Nghị quyết 11 của Ban chấp hành Trung ương Đảng (3.1965) về tình hình, nhiệm vụ cấp bách của cách mạng Việt Nam trong thời kỳ mới; Nghị quyết của Tỉnh uỷ (6.5.1965) về công tác quân sự địa phương, Đảng bộ và nhân dân các dân tộc Sơn La, phát huy truyền thống cách mạng, cùng nhân dân miền Bắc dấy lên các phong trào thi đua chống Mĩ cứu nước; trong đó rầm rộ, sôi nổi nhất là phong trào thanh niên “Ba sẵn sang”, phụ nữ “Ba đảm đang”, thực hiện kết hợp hai nhiệm vụ sản xuất với chiến đấu “Tay cày, tay súng”, “Tay búa, tay súng”; chuyển hướng hoạt động từ “thời bình” sang “thời chiến”, quyết tâm đánh thắng đế quốc Mĩ xâm lược và đã giành được những thắng lợi to lớn.

Từ năm 1965-1968, trong hoàn cảnh đế quốc Mĩ đánh phá hết sức ác liệt nhưng sản xuất nông nghiệp vẫn có bước phát triển mới; phong trào thi đua thâm canh tăng năng suất lúa được dấy lên sâu rộng trong tất cả các hợp tác xã. Năm 1968, toàn tỉnh đã có 60 hợp tác xã đạt mục tiêu 5 tấn thóc/ha gieo trồng; nhiều hợp tác xã trong tỉnh đã trở thành ngọn cờ đầu trong phong trào thi đua thâm canh tăng năng suất lúa trên miền Bắc xã hội chủ nghĩa, tiêu biểu như: Hợp tác xã Thôm Mòn (Thuận Châu), Nà Phát (Mai Sơn), Hang Trùng (Mộc Châu), Năng Qua, Kim Chung (Yên Châu), Tống Tở (Quỳnh Nhai), bản Cang (Sông Mã), bản Tông (Mường La), Bó Ban (Thị Xã), Tân Phong (Phù Yên)... Cơ sở vật chất được củng cố tăng cường; nhiều tiến bộ của khoa học kỹ thuật được áp dụng vào sản xuất nông nghiệp; cuộc vận động “Cải tiến quản lí, cải tiến kỹ thuật trong các hợp tác xã” của Bộ Chính trị (23/11/1962) tiếp tục được triẻn khai và đạt được nhiều tiến bộ…Nhờ vậy, đến năm 1968 toàn tỉnh đã có 96%  tổng số hộ nông dân ở vùng thấp và 62% số hộ nông dân vùng cao đã tham gia các hợp tác xã; qui mô cũng được nâng bình quân từ trên 20 hộ lên trên 30 hộ, trong đó gần ¼ số hợp tác xã có qui mô từ 41 đến 100 hộ; nhiều đội chuyên trong các hợp tác xã được hình thành; sản lương lương thực quy thóc năm 1968 của tỉnh đạt 94.000 tấn, tăng 8,5% so với năm 1965 [4, tr.115-116].

Đối với công nghiệp và thủ công nghiệp, mặc dù phải chuyển hướng hoạt động từ “thời bình” sang “thời chiến”, khó khăn thiếu thốn về mọi mặt nhưng sản xuất vẫn được giữ vững; toàn tỉnh cũng đã có 67 cơ sở sản xuất công nghiệp và thủ công nghiệp, cùng hàng trăm tổ thủ công trong các hợp tác xã; vốn đầu tư ngân sách cho công nghiệp bình quân hàng năm tăng 29,7%, nhiều thiết bị kỹ thuật mới đã được trang bị cho các nhà máy, xí nghiệp, cơ sở sản xuất. Vì thế, nhiều loại nông cụ và công cụ thường phục vụ cho sản xuất và đời sống của nhân dân đã được đáp ứng đủ; một số công cụ mới như: thiết bị cơ khí nhỏ, thuỷ điện nhỏ và trung tu ô tô, máy kéo cũng đã được sản xuất hoặc tu sửa tại địa phương. Các mặt hàng tiêu dùng thiết yếu như: thuốc chữa bệnh, thuôc bổ, vải vóc, thực phẩm chế biến, bánh kẹo, chè…đều tăng khá. Từ 1965 đến1968, sản lượng công nghiệp và thủ công nghiệp của tỉnh hàng năm tăng bình quân 2,5%, riêng hai năm từ 1966 đến 1968 đế quốc Mĩ đánh phá ác liệt nhất trên địa bàn Sơn La nhưng sản xuất vẫn tăng 7,69%.

Các lĩnh vực giao thông vận tải, lưu thông phân phối vẫn luôn được bảo đảm thông suốt trong trong những năm chiến tranh; nhiều mặt hàng thiết yếu như: dầu, muối, vải vóc, thuốc chữa bệnh… vẫn được đáp ứng kịp thời nhu cầu đời sống, chiến đấu của cán bộ, chiến sĩ và nhân dân.

Phong trào văn hoá văn nghệ sôi động chưa từng có, phong trào “Tiếng hát át tiếng bom” đã phát triển sâu rộng trong các lực lượng vũ trang và đồng bào các dân tộc. Công tác thông tin cổ động được toả rộng tận các thôn bản; báo Sơn La phát hành đều đặn đến tận chi bộ cơ sở; các đội văn nghệ xung kích tăng cường phục vụ tại chỗ cho đồng bào và chiến sĩ… Hoạt động này thực sự đa phát huy tác dụng lớn trong việc tuyên truyền, cổ động quân dân các dân tộc nâng cao ý chí quyết chiến, quyết thắng và tinh thần lạc quan cách mạng, tạo ra sức mạnh tinh thần to lớn trong việc thực hiện nhiệm vụ sản xuất, xây dựng và chiến đấu.

Đối với ngành giáo dục, phong trào thi đua “Hai tốt” (Dạy tốt và Học tốt) được dấy lên sâu rộng trong ngành giáo dục; số lượng học sinh phổ thông các cấp thời kỳ này không những không bị giảm sút mà còn tăng hơn so với giai đoạn trước; đến năm 1968 toàn tỉnh có trên 2000 học sinh theo học trong các trường đại học và trung học chuyên nghiệp; giáo dục phổ thông đạt tỷ lệ 1000 dân có gần 200 học sinh; gấp gần 3 lần năm 1965 [4, tr.115-119].

Công tác khám chữa bệnh trong nhân dân được bảo đảm, nhiều dịch bệnh nguy hiểm trong đồng bào các dân tộc như: sốt rét, tả, đậu mùa…đã bị ngăn chặn và dập tắt kịp thời; công tác cứu chữa thương binh, phục vụ chiến đấu được đặc biệt chú trọng.

Cùng với những thắng lợi to lớn trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, Đảng bộ và nhân dân các dân tộc Sơn La cũng đã giành được những thắng lợi to lớn trong công cuộc chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mĩ (1965-1968). Có thể nói, dưới mưa bom, bão đạn của hơn 7000 lần tốp máy bay địch đánh phá, oanh tạc trên 2000 lần cả ban ngày cũng như ban đêm vào trên 1500 địa điểm ở thị xã Sơn La, các huyện lỵ và trung tâm nông-lâm trường, cầu cống, bến phà, nhà kho, khu dân cư sơ tán… khó khăn, thiếu thốn về mọi mặt. Nhưng, Đảng bộ và nhân dân các dân tộc Sơn La đã phát huy chủ nghĩa anh hùng cách mạng, thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Không có gì qui hơn độc lập tự do” [8,tr.108], kết hợp hai nhiệm vụ sản xuất với chiến đấu, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân và đã đánh thắng đế quốc Mĩ xâm lược ngay từ trận đầu, ngày đầu.

Trong trận chiến đấu đầu tiên ngày 14/6/1965 quân, dân Mộc Châu đã bắn rơi 2 máy bay Mĩ;  tiếp theo vào các ngày 20 và 22/6/1965 quân dân Thị xã lại bắn rơi 7 máy bay Mĩ. Ngay sau khi quân dân Sơn La thắng trận, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi điện khen ngợi, bức điện có đoạn viết: “Bác rất vui mừng trong những ngày 14,20 và 22/6/1965 quân và dân Mộc Châu và Sơn La đã bắn rơi 9 máy bay Mĩ, bắt sống một số tên phi công Mĩ.

Thay mặt Trung ương Đảng và Chính phủ, Bác đã gửi lời khen ngợi bộ đội, đồng bào và cán bộ các dân tộc Tây Bắc đã anh dũng chiến đấu, thắng lợi vẻ vang” [1, tr.116].

Phát huy thắng lợi đã đạt được, ngày 28/8/1965 tổ dân quân của Lò Văn Sáng (Chiềng La-Mường La) lại dùng súng bộ binh bắn rơi một chiếc máy bay F.105 của giặc Mĩ; ngày 3/9/1965 dân quân xã Tông Lệnh (Thuận Châu) tiếp tục bắn rơi một chiếc máy bay F.405; đặc biệt ngày 20/10/1965 hai dân quân dân tộc  Mông xã Kim Bon (Phù Yên) đã dùng súng bộ binh bắn rơi tại chỗ một chiếc F.105- đây là xã vùng cao đầu tiên trên miền Bắc bắn rơi máy bay Mĩ. Ngoài ra, dân quân ở nhiều địa phương trong tỉnh như: Chiềng Đông (Yên Châu), Tú Nang (Mộc Châu), Chiềng Yên (Mai Sơn) cũng đã bắn rơi nhiều máy bay Mĩ… Chiến công của quân, dân Sơn La thực sự đã trở thành điểm sáng trong phong trào thi đua “Dùng súng bộ binh săn máy bay Mĩ” trên miền Bắc. Đến năm 1968, tổng số máy bay Mĩ bị quân, dân Sơn La bắn rơi trong cuộc chiến tranh phá hoại lần thứ nhất là 63 chiếc, bắt sống nhiều giặc lái; bắn bị thương hàng trăm chiếc khác, riêng dân quân tự vệ đã bắn rơi 7 chiếc [4, tr.109].

Thắng lợi của quân, dân Sơn La đã góp phần cùng nhân dân cả nước đánh thắng đế quốc Mĩ xâm lược; buộc chúng phải tuyên bố “xuống thang chiến tranh” ngừng ném bom bắn phá đối với miền Bắc xã hội chủ nghĩa và chấp nhận ngồi đàm phán với ta ở hội nghị Pa ri từ ngày 13/5/1968; từ đây cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước của nhân dân ta bước sang thời kỳ mới quyết liệt hơn.

 

Trong lúc cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước của nhân dân ta đang bước vào giai đoạn gay go quyết liệt thì vào lúc 9 giờ 47 phút ngày 2.9.1969 Chủ tịch Hồ Chí Minh đã qua đời tại thủ đô Hà Nội, hưởng thọ 79 tuổi – một tổn thất hết sức lớn lao đối dân tộc Việt Nam và phong trào cách mạng thế giới. Trước lúc  đi xa, Người đã để lại bản Di chúc thiêng liêng, ân cần căn dặn toàn Đảng, toàn quân và toàn dân:

“ Cuộc kháng chiến chống Mĩ có thể còn kéo dài. Đồng bào ta có thể phải hy sinh nhiều của, nhiều người. Dù sao chúng ta phải quyết tâm đánh giặc Mĩ đến thắng lợi hoàn toàn.

Còn non, còn nước còn người

Thắng giặc Mĩ, ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay !

Dù khó khăn gian khổ đến mấy, nhân dân ta nhất định sẽ hoàn toàn thắng lợi, đế quốc Mĩ nhất định phải cút khỏi nước ta. Tổ quốc ta nhất định sẽ thống nhất. Đồng bào Nam - Bắc nhất định sẽ sum họp một nhà” .

Trong không khí đau thương của cả dân tộc, Đảng bộ và nhân dân các dân tộc Sơn La, lực lượng vũ trang trong tỉnh đã để tang Bác bảy ngày. Các cơ quan đảng, chính quyền, đoàn thể quần chúng từ cấp tỉnh đến cấp huyện đều tổ chức lễ truy điệu Bác Hồ. Trong buổi lễ truy điệu trọng thể và trang nghiêm ở tỉnh, đồng chí Hoàng Nó – Bí thư Tỉnh uỷ đã long trọng đọc lời thề của Đảng Bộ và nhân dân các dân tộc Sơn La:

+ “Hết lòng học tập và noi gương Hồ Chủ Tịch, triệt để tuân theo những lời dạy của Hồ Chủ Tịch, suốt đời phấn đấu cho sự nghiệp cách mạng mà Hồ Chủ Tịch đã trọn đời hy sinh phấn đấu và cho ý nguyện của Hồ Chủ Tịch là đưa miền núi tiến kịp miền xuôi, các dân tộc thiểu số tiến kịp các dân tộc đa số được thực hiện thắng lợi để thoả lòng mong ước của Người.

+ Quyết xiết chặt hàng ngũ, đoàn kết chặt chẽ hơn bao giờ hết xung quanh Trung ương Đảng và Chính phủ, tuyệt đối tin tưởng ở sự lãnh đạo của Ban chấp hành Trung ương Đảng, dũng cảm tiến lên, đạp bằng mọi khó khăn gian khổ

Đưa sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và sự nghiệp chống Mĩ cứu nước mau chóng đi tới thắng lợi hoàn toàn, thực hiện thống nhất nước nhà, thực hiện xây dựng một nước Việt nam hoà bình thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh.

+ Quyết biến niềm tưởng nhớ sâu sắc và đau thương vô hạn thành sức mạnh to lớn trong hành động cách mạng… Đưa phong trào cách mạng của tỉnh tiến lên cao trào mạnh mẽ, đều khắp, liên tục…”[4, tr.131]

Đáp lời kêu gọi của Ban chấp hành Trung ương Đảng, Tỉnh uỷ đã chỉ đạo tiến hành đợt sinh hoạt chính trị “Học tập và theo Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh” trong toàn Đảng bộ và nhân dân các dân tộc. Ngay sau đó Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ ba được triệu tập tại xã Chiềng Ban (Mai Sơn) từ ngày 11 đến ngày 25/10/1969. Sau lễ tưởng niệm Hồ Chủ Tịch, đồng chí Bí thư Tỉnh uỷ Hoàng Nó đã đọc diễn văn khai mạc, nêu rõ: “Đại hội này là Đại hội học tập và làm theo Di chúc của Bác Hồ, đánh thắng giặc Mĩ xâm lược và phát triển mạnh mẽ kinh tế địa phương”.

Trên cơ sở đúc rút những thành tựu và kinh nghiệm trong tổ chức và chỉ đạo của Đảng bộ từ sau Đại hội II (10/1963), nhất là trong hơn 4 năm thực hiện nhiệm vụ chuyển hướng phát triển kinh tế, văn hoá từ “thời bình” sang “thời chiến” và tiến hành cuộc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mĩ. Đại hội đã phân tích một cách chính xác thực trạng của tỉnh, địa phương có nhiều dân tộc thiểu số sinh sống; trình độ phát triển kinh tế xã hội còn thấp, công cuộc phát triển kinh tế - xã hội tiến hành chưa được bao nhiêu thì đã phải đối mặt với cuộc chiến tranh phá hoại hết sức khốc liệt của giặc Mĩ. Thế nhưng, dưới sự lãnh đạo của Trung ương Đảng và sự chỉ đạo của Khu uỷ, Đảng bộ đã kiên định lãnh đạo nhân dân các dân tộc trong tỉnh phát huy truyền thống đấu tranh cách mạng kiên cường, ý chí độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, thực hiện kết hợp chặt chẽ hai nhiệm vụ sản xuất với chiến đấu, vừa xây dựng và phát triển kinh tế văn hoá… Đại hội cũng đã đề ra phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội và chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của giặc Mĩ là:

“Tiếp tục phát huy truyền thống đoàn kết và đấu tranh anh dũng của Đảng bộ và nhân dân các dân tộc trong tỉnh, ra sức tăng cường lực lượng quốc phòng và tiềm lực kinh tế địa phương. Củng cố, xây dựng và hoàn thiện từng bước quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, tiến hành mạnh mẽ cách mạng kỹ thuật, cách mạng tư tưởng văn hoá đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp - lâm nghiệp, phát triển toàn diện, cân đối, vững chắc theo hướng thâm canh, định canh, bảo vệ rừng và từng bước khoanh vùng, chuyên môn hoá sản xuất, khôi phục và tiếp tục phát triển công nghiệp địa phương và giao thông vận tải, đồng thời tổ chức tốt lưu thông phân phối và đẩy mạnh sự nghiệp văn hoá xã hội. Ra sức xây dựng Đảng bộ, chính quyền và các đoàn thể quần chúng vững mạnh hơn về tổ chức và chất lượng. Bảo đảm hoàn thành nhiệm vụ chiến đấu và an ninh của địa phương trong mọi tình huống và góp phần tích cực vào sự nghiệp đánh thắng giặc Mĩ xâm lược, đưa sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở địa phương tiến lên một bước mới, đưa các dân tộc trong tỉnh cùng tiến bộ mạnh mẽ, từng bước xoá bỏ chênh lệch mọi mặt giữa các dân tộc anh em” [4, tr.134]

Dưới ánh sáng nghị quyết Đại hội tỉnh Đảng bộ lần thứ ba (1969) và thực hiện lời căn dặn trong Di chúc của Người, nhân dân các dân tộc Sơn La đã triển khai và thực hiện hai cuộc vận động lớn: “Làm theo Di chúc của chủ tich Hồ Chí Minh” và “Phát huy dân chủ, tăng cường chế độ làm chủ tập thể của quần chúng xã viên ở nông thôn” với thực hiện Điều lệ hợp tác xã và cụ thể hóa thành các phong trào thi đua trên các lĩnh vực, trong từng ngành, ở từng cơ sở, tạo ra sự cổ vũ quần chúng đi vào hành động…

Nhờ vậy, công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội của các dân tộc Sơn La đã giành được những thành tựu rực rỡ; trong nông nghiệp công tác điều tra cơ bản và quy hoạch phát triển chung trên địa bàn tỉnh, trong từng huyện, từng vùng được xúc tiến, điều này thể hiện tư duy mới về lãnh đạo kinh tế của Đảng bộ. Đầu tư phát triển nông – lâm nghiệp cũng được điều chỉnh mới, tập trung mạnh và thích đáng cho những vùng sản xuất nông sản hàng hoá; tăng nhanh diện tích cây công nghiệp và trồng rừng để tạo ra sự thay đổi trong cơ cấu nông – lâm nghiệp. Thâm canh, tăng vụ và ứng dụng khoa học kỹ thuât vào sản xuất được chú trọng, nhất là các biện pháp thuỷ lợi và phòng trừ sâu bệnh…

Kết quả, phong trào thi đua thâm canh tăng năng suất lúa được duy trì và giữ vững; đến năm 1971 toàn tỉnh đã có 19 hợp tác xã đạt năng suất lúa bình quân 3-5 tấn thóc/ha gieo trồng hai vụ; vốn đầu tư cho nông - lâm nghiệp hàng năm tăng khoảng 44%; năm 1971 sản lượng lương thực quy thóc của tỉnh đã tăng 20% so với năm 1968, trong đó hoa màu (ngô, sắn) một hướng quan trọng để giải quyết lương thực ở miền núi đã chiếm trên 30% tổng diện tích cây lương thực và gần 40% tổng sản lượng quy thóc [4, tr.137]. Chúng ta đã cơ bản hoàn thành việc khôi phục hệ thống thuỷ lợi bị địch đánh phá trong những năm chiến tranh và xây dựng mới hàng chục công trình bảo đảm tưới tiêu cho trên 80% diện tích ruộng hai vụ; khai hoang được hơn 1000 ha ruộng nước, trồng mới trên 300 ha chè và cải tạo trồng mới được trên 400 ha đồng cỏ căn nuôi và trên 800 ha rừng; công cụ sản xuất được cải tiến và từng bước cơ giới hoá. Do đó, trong hai năm 1973-1974 đã có trên 40% ruộng hai vụ đạt năng suất lúa 5 tấn thóc/ha gieo trồng; riêng năm 1974 sản lượng lương thực của tỉnh đạt 91.000 tấn quy thóc. Các vùng sản xuất tập trung lớn như: Mộc Châu, Mai Sơn, Sông Mã, Chiềng Chung (Yên Châu) đã ổn định phương hướng phát triển [4, tr.154].

Cuộc vận động định canh định cư kết hợp với phong trào Hợp tác hoá trong đồng bào Mông và đồng bào các dân tộc thiểu số ở vùng cao có nhiều tiến bộ; tình trạng du canh du cư về cơ bản được chấm dứt. Phần lớn các hợp tác xã ở vùng thấp đã có qui mô liên bản và xây dựng được các đội sản xuất cơ bản, các tổ chăn nuôi, tổ thuỷ lợi và nhiều hợp tác xã đã thành lập được các tổ ngành nghề thủ công. Công tác quản lí thực hiện “3 quản”, “3 khoán” có nhiều tiến bộ; dân chủ và công khai hoá trong quản lí các hợp tác xã thường xuyên được coi trọng.

Về công nghiệp và thủ công nghiệp, từ khi chiến tranh phá hoại của đế quốc Mĩ  kết thúc (1973) đã được chuyển đổi lại phương thức hoạt động từ “thời chiến” sang “thờì bình”; tất cả các nhà máy xí nghiệp, cơ sở sản xuất được sắp sếp lại để bảo đảm qui hoạch lâu dài. Nhờ vậy, mà công nghiệp và thủ công nghiệp của tỉnh nhanh chóng đi vào thế ổn định; vốn đầu tư ngân sách dành cho công nghiệp tăng bình quân hàng năm trên dưới 20%; nhiều xí nghiệp được xây dựng lại, mở rộng và tăng thêm năng lực cho sản xuất; nhiều ngành nghề mới như: may, dệt, gạch ngói… đã được hình thành. Riêng đối với các cơ sở sản xuất tiểu, thủ công nghiệp, toàn tỉnh thời kỳ này đã có trên 50 cơ sở sản xuất chuyên nghiệp và trên 200 tổ thủ công trong các hợp tác xã nông nghiệp; sản phẩm hàng hoá hàng năm đều tăng gấp hơn 2 lần so với năm 1965 và tăng 1,8 làn so với năm 1971; đến năm 1973 tỷ trọng công nghiệp và thủ công nghiệp đạt 19,3% tổng giá trị nông-lâm-công nghiệp.

Các lĩnh vực khác như: giao thông vận tải, xây dựng cơ bản ngay sau khi chiến tranh chấm dứt cũng đã được khôi phục và đi vào ổn định bảo đảm nhu cầu thiết yếu của đời sống, sản xuất… Trong lĩnh vực văn hoá giáo dục và y tế cũng có nhiều tiến bộ, phong trào văn hoá văn nghệ phát triển rộng khắp; các đội văn nghệ xung kích, đội chiếu bóng lưu động đã đến tận các bản vùng sâu, vùng xa phục vụ đồng bào các dân tộc. Phong trào thi đua hai tốt “dạy tốt và học tốt” trong giáo dục được tiếp tục được duy trì đều đặn; hệ thống giáo dục phổ thông từ mầm non, tiểu học và trung học cơ sở phát triển mạnh mẽ đến tận các thôn bản. Đến năm 1974, hầu hết các xã và cụm xã trong tỉnh đều đã xây dựng được trạm xá; tuyến huyện có một bệnh viện; riêng ở trung tâm thị xã đã hình thành bệnh viện đa khoa với cơ sở vật chất tương đối khang trang và thiết bị hiện đại đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh cho đồng bào các dân tộc; công tác phòng chống dịch bệnh được chú trọng, nhiều dịch bệnh hiểm nghèo như đậu mùa, tả, sốt rét… đã được ngăn chặn và khắc phục kịp thời…

Từ 4/1972, do những thất bại trên chiến trường miền Nam, đế quốc Mĩ quay trở lại đánh phá đối với miền Bắc xã hội chủ nghĩa. Đặc điểm của cuộc chiến tranh phá hoại lần hai so với lần thứ nhất (1965-1968) là phạm vi đánh phá hẹp, nhưng cường độ và mục tiêu đánh phá lại thâm độc hơn; thủ đoạn của chúng là đánh phá liên tục, thành nhiều vòng, nhiều lớp; đế quốc Mĩ cũng đã huy động những phương tiện chiến tranh hiện đại nhất lúc bấy giờ như: máy bay ném bom chiến lược B.52, máy bay phản lực F.111 và áp dụng những thành tựu tiến tiến nhất của khoa học kỹ thuật vào mục tiêu để huỷ diệt miên Bắc và khuất phục nhân dân ta. Trong cuộc đánh phá này, mục tiêu của đế quốc Mĩ là tập trung huỷ diệt những công trình kinh tế quan trọng, những mục tiêu quân sự, hệ thống giao thông huyết mạch và cả những khu vực đông dân cư ở hầu khắp các tỉnh đồng bằng Bắc Bộ, trong đó đỉnh cao nhất là cuộc tập kích chiến lược bằng B.52 vào Hà Nôi, Hải Phòng cuối tháng 12/1972 làm suy sụp tiềm lực và làm lung lay ý chí chiến đấu của nhân dân ta. Chính vì vậy, mà cường độ đánh phá của đế quốc Mĩ đối với Sơn La giảm nhiều so với trước.

Tuy nhiên, Đảng bộ vẫn coi trọng công tác lãnh đạo quân, dân trong tỉnh luôn cảnh giác sẵn sàng chiến đấu; tăng cường công tác phòng không nhân dân, triệt để sơ tán những trọng điểm , dãn mật độ dân cư ở những nơi sơ tán và thực hiện thường trực chiến đấu cả ngày lẫn đêm; sửa chữa các công trình quân sự, đào thêm hầm hào đến tới tận các gia đình, nơi sản xuất và công tác. Một mặt Tỉnh Uỷ cũng chỉ đạo tất cả các đơn vị trực chiến bắn máy bay Mĩ trở lại hoạt động theo chế độ thời chiến; thành lập thêm 44 tổ trực chiến, hai đại đội dân quân, tự vệ cao xạ, nâng tổng số thành sáu đại đội dân quân tự tự vệ cao xạ với 683 khẩu súng trường, 79 trung liên, 27 trọng liên 12,7 milimét, 12 cao xạ 37milimét và pong trào bắn máy bay địch tầm thấp được phát động rộng khắp [4, tr.148].

Đúng như dự đoán của Trung ương và Tỉnh uỷ, 10 giờ 30 phút ngày 1/10/1972 đế quốc Mĩ trở lại đánh phá khu vực Nà Sản (Sơn La) bằng nhiều tốp máy bay phản lực. Nhưng, do có tinh thần cảnh giác cao, công tác phòng tránh của ta lại được triển khai triệt để nên không gây thiệt hại đáng kể. Sau đó đế quốc Mĩ tập trung đánh phá một số điểm của Mộc Châu, nhưng chúng đã vấp phải sự đánh trả quyết liệt của các lực lượng phòng không địa phương, trong trận chiến đấu này hai xã Chường Tương và Chường Khừa đã lập công lớn trong việc bắt sống giặc lái Mĩ.

Đối với công tác giữ gìn an ninh chính trị, với mục đích để phòng ngừa và triệt phá kịp thời các mầm mống phản động phá hoại từ bên trong và đập tan nhanh chóng các hành động xâm phạm từ bên ngoài vào, phát động toàn dân tham gia làm công tác trị an, thời gian này được sự chỉ đạo của Tỉnh uỷ lực lượng an ninh đã tiến hành đồng bộ các biện pháp như: điều tra nắm bắt tình hình phân loại, cải tạo và quản lí những phần tử có vấn đề về chính trị, tăng cường trấn áp những phần tử có hành vi chống đối; bên cạnh đó ta còn coi trọng công tác xây dựng xã chiến đấu vững mạnh về chính trị và an ninh; nhất là các xã vùng cao biên giới và một số xã vùng xung yếu. Do vậy mà trong hoàn cảnh phức tạp do chiến tranh phá hoại của giặc Mĩ gây ra, nhưng kẻ địch không gây ra được một vụ gây rối nào, các tổ chức phản động nhen nhóm đều bị triệt phá hoàn toàn. Trật tự an ninh cả vùng thấp và vùng cao biên giới được ổn định, tình hình chính trị trong nhân dân các dân tộc được giữ vững.

Để góp phần thực hiện Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, đưa cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước đi đến thắng lợi hoàn toàn, thời kỳ này Đảng bộ và nhân dân các dân tộc Sơn La dốc sức mình chi viện cho tiền tuyến miền Nam và các tỉnh Bắc Lào.

Trên tinh thần “Tiền tuyến cần người Sơn La có đủ, tiền tuyến cần của Sơn La sẵn sàng”, từ 1965-1968 thông qua các phong trào thi đua chống Mĩ cứu nước đã có trên 4000 thanh niên các dân tộc (chiếm 1,5% dân số) tham gia quân đội, trong số đó phần lớn là tham gia các đơn vị chủ lực. Nhiều xã trong tỉnh đã hoàn thành và hoàn thành vượt mức nghĩa vụ tuyển quân, như: Mường Bang (Phù Yên) tổng số thanh niên tham gia quân đội chiếm 7,13% dân số; Chiềng Sang (Yên Châu) 6,9%, Quang Minh (Mộc Châu) 6,5%... [4,tr.112-113]. Ngoài ra, tỉnh còn huy động hàng triệu ngày công phục vụ tiền tuyến bên nước bạn Lào và yêu cầu chiến đấu trong tỉnh. Chỉ riêng trong 4 tháng đầu năm 1968, đã huy động được 45 vạn ngày công đưa hàng ngàn tấn vũ khí đạn dược và lương thực thực phẩm sang chiến trường Bắc Lào trong điều kiện vô cùng khó khăn và đã đáp ứng yêu cầu của bạn. Chính trong các phong trào thi đua chống Mĩ cứu nước và phục vụ chiến đấu đã xuất hiện nhiều tấm gương dũng cảm bất chấp mọi hiểm nguy, tiêu biểu là đơn vị dân quân nữ phục vụ tiền tuyến của huyện Sông Mã, đơn vị dân quân nữ của của huyện Yên Châu đã khiêng bom Mĩ chưa nổ ra nơi an toàn và sửa đường thông tuyến, thông xe kịp thời.

Trong thời kỳ này, quán triệt sự chỉ đạo của Trung ương, Tỉnh uỷ Sơn La cũng xác định giúp cách mạng Lào không những là nghĩa vụ quốc tế mà còn là sự phối hợp cần thiết có tác dụng đánh địch từ xa, đẩy địch ra xa biên giới, tạo hành lang bảo vệ sự ổn định của tỉnh. Từ cuối năm 1965, Tỉnh uỷ đã quyết định đưa đại đội vũ trang hai huyện Yên Châu, Mộc Châu và tiểu đoàn 428 của tỉnh sang giúp đỡ nhân dân hai huyện Xiềng Kho, Mường Son thuộc tỉnh Hủa Phăn  theo yêu cầu của nước bạn Lào, chiến đấu hơn 30 trận, tiêu diệt hàng nghìn tên địch, giải phóng được phần đất đai rộng lớn và trên 20.000 dân, giúp bạn xây dựng cơ sở chính trị và lực lượng vũ trang. Đến ngày 1/2/1967, Tỉnh uỷ quyết định thành lập Ban miền Tây (cơ quan chuyên làm công tác giúp Lào) ký kết hợp tác giữa hai tỉnh Sơn La và Hủa Phăn, cử các đội công tác giúp bạn xây dựng cơ sở lâu dài và giúp bạn hàng trăm tấn giống, lương thực, hàng hoá để ổn định đời sống và phát triển sản xuất ở vùng giải phóng của Lào. Từ năm 1969 theo yêu cầu giúp đỡ của các bạn Lào, tiểu đoàn 428 được tăng cường một đại đội sang chi viện cho nước bạn đánh thắng giòn giã, giải phóng Mường Son, Pha Bông và vây đánh địch ở Tòng Cọ, đánh thiệt hại nặng một tiểu đoàn địch, bắt sống hơn 173 tên, đẩy địch lùi xa biên giới. Ngoài ra, tỉnh còn huy động hơn 1,5 triệu ngày công phục vụ cho quốc phòng và chiến trường Bắc Lào.

Nhìn chung, thắng lợi của Đảng bộ và nhân dân các dân tộc Sơn La đạt được trên tất cả các mặt trận thời kỳ này đã góp phần to lớn cùng với nhân dân cả nước đánh thắng đế quốc Mĩ xâm lược, buộc chúng phải kí kết hiệp định Pari vào ngày 27/01/1973, cam kết chấm dứt chiến tranh, lập lại hoà bình ở Việt Nam và Đông Dương.

Sau khi Hiệp định Pari được kí kết (1973), cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước của nhân dân ta bước sang thời kỳ mới; tương quan so sánh lực lượng giữa ta và địch đã có sự thay đổi hẳn, ngày càng có lợi cho các lực lượng cách mạng. Về phía nguỵ quyền sài Gòn, do mất chỗ dựa là đế quốc Mĩ đã làm cho chúng vốn đã suy yếu ngày càng xuống dốc nhanh chóng. Về phía lực lượng cách mạng không ngừng lớn mạnh; ngay sau khi Hiệp định Pari được kí kết miền Bắc đã bắt tay ngay vào công cuộc khôi phục kinh tế hàn gắn vết thương chiến tranh và đã đạt được những thành tựu rực rỡ trên tất cả các lĩnh vực, tạo cơ sở thực lực để có thể chi viện sức người, sức của cho cuộc kháng chiến chống Mĩ ở mức cao nhất. Miền Nam, quân dân ta cũng giành được những thắng lợi to lớn, liên tiếp đánh bại các cuộc hành quân lấn chiếm vùng giải phóng của Nguỵ quyền Sài Gòn, từng bước tạo thế và lực mới cho cách mạng…

Trên cơ sở phân tích đánh giá tình hình một cách kỹ lưỡng tương quan so sánh lực lượng giữa ta và địch, Hội nghị Bộ Chính trị Trung ương Đảng họp từ 30/9 đến 8/10/1974 đã nhận định: thời cơ của cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước đã chín muồi, Đảng ta quyết định đề ra kế hoạch giải phóng hoàn toàn miền Nam. Khẩu hiệu “tất cả để giải phóng miền Nam” đã trở thành quyết tâm phấn đấu của toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta, trong đó có quân dân Sơn La.

Để đáp ứng tình hình và nhiệm vụ mới của cuộc kháng chiến chống Mĩ, cứu nước, Tỉnh uỷ mở hội nghị cán bộ toàn tỉnh quán triệt Nghị quyết 22 của Trung ương Đảng và sau đó là mở đợt sinh hoạt chính trị trong Đảng bộ và nhân dân để triển khai thực hiện Nghị quyết 22 cho phù hợp với thực tế của Sơn La; Tỉnh uỷ cũng chủ trương chuyển từ trạng thái sơ tán “thời chiến” trở lại hoạt động “thời bình”, kết hợp tăng nhanh mức sản xuất xã hội và chuyển rõ hơn cơ cấu sản xuất nông-lâm nghiệp nhằm giải quyết tốt vấn đề lương thực. Đồng thời với khôi phục và phát triển kinh tế, văn hoá phải thực hiện tốt nhất nhiệm vụ động viên sức người, sức của cho mục tiêu của toàn dân và mong ước của Hồ Chủ Tịch là giải phóng hoàn toàn miền Nam; mặt khác tiếp tục sẵn sàng chiến đấu và giữ vững an ninh địa phương. Lúc này, phong trào thi đua sôi nổi đã được dấy lên sâu rộng trên tất cả các lĩnh vực và trong mọi tầng lớp nhân dân các dân tộc, với khẩu hiệu: “Cả Sơn La là một công trường hùng vĩ, mỗi người dân là một dũng sĩ xây dựng chủ nghĩa xã hội” và “Hướng về đồng bào miền Nam ruột thịt, tất cả để giải phóng hoàn toàn miền Nam”.

Trên tinh thàn đó, Đảng bộ nhà nhân dân các dân tộc Sơn La bước vào công cuộc cách mạng mới, với khí thế hết sức khẩn trương và đạt được những thành tựu rực rỡ trên tất cả các lĩnh vực.

Sản xuất nông nghiệp của tỉnh đạt mức tăng trưởng cao nhất từ trước đến giờ, năm 1975 tuy bị thiên tai trầm trọng nhưng so với năm 1971 sản lượng lương thực tăng 6,5%, giá trị sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp tăng 1,2 lần; vốn đầu tư ngân sách cho nông – lâm nghiệp thời kỳ này bình quân hàng năm tăng xấp xỉ 44%; phong trào thi đua thâm canh tăng năng suất lúa được duy trì trong tất cả các hợp tác xã sản xuất nông nghiệp. Năm 1974 sản lượng lương thực quy thóc của tỉnh đạt 91 nghìn tấn; nhiều vùng sản xuất tập trung như: vùng kinh tế chè – bò Mộc Châu, vùng kinh tế ngô-chè-đậu tương –bò thịt Nà Sản, vùng kinh tế cánh kiến đỏ Sông Mã, vùng tre nứa dọc sông Đà, cụm sản xuất vừng đen xuất khẩu Quỳnh Nhai…đã được hình thành. Các huyện cũng đã phân định các tiểu vùng nông –lâm nghiệp và đi vào chuyển hướng sản xuất.

Công tác trồng và bảo vệ rừng được chú trọng hơn trước, cuộc vận động định canh định cư căn bản hoàn thành ở các hợp tác xã bậc cao. Nhiều xí nghiệp được xây dựng lại và mở rộng hơn so với trước, một số xí nghiệp mới được hình thành như: cơ khí nông nghiệp, may, dệt, gạch ngói, xẻ gỗ và sản xuất cánh kiến xuất khẩu; giao thông vận tải, xây dựng cơ bản và hoat động lưu thông phân phối có nhiều chuyển biến tốt, đáp ứng được nhu cầu của đời sống sản xuất của nhân dân…

Những thành tựu trên đã góp phần tạo cơ sở, thực lực để Đảng bộ và nhân dân các dân tộc Sơn La thực hiện dốc sức mình chi viện sức người, sức của ở mức cao nhất cho tiền tuyến miền Nam. Trong 2 năm 1973-1974 chỉ tiêu tuyển quân đã tăng gấp rưỡi các năm trước và đạt chất lượng cao. Phong trào “5 cử và 1 nguyện” đã phát triển sâu rộng trong các tầng lớp nhân dân và thanh niên. Với khí thế ấy các đợt tuyển quân đã trở thành ngày hội của nhân dân và thanh niên. Tính đến năm 1974, toàn tỉnh đã động viên được gần 11.000 thanh niên tham  nhập ngũ, chiếm 38% thanh niên và 2,74% dân số. Đại bộ phận con em các dân tộc đi làm nhiệm vụ đều đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chiến đấu trên các chiến trường, nhiều người cũng đã lập công xuất sắc trở thành anh hùng, chiến sĩ quyết thắng, chiến sĩ thi đua, dũng sĩ diệt Mĩ. Trong các anh hùng lực lượng vũ trang có liệt sĩ Cà Văn Khum, Đèo Văn Khổ, Nguyễn Đình Thử, Đinh Đức Dừa, Vì Văn Pụn…[4, tr.160]

Sự đóng góp sức người, sức của của Đảng bộ và nhân dân các dân tộc Sơn La đã góp phần cùng dân tộc đưa cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước đi đến giành được thắng lợi hoàn toàn vào năm 1975, đất nước ta hoàn toàn độc lập, hai miền Nam- Bắc đã xum họp một nhà – mong ước của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thành hiện thực.

 

Sau khi cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước thắng lợi (1975), để thực hiện ước nguyện của Người “Đến ngày thắng lợi, nhân dân ta sẽ xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn” [8,tr.112] nhân dân ta lại bước vào công cuộc cách mạng mới.

Từ 1976-1985, trải qua hai nhiệm kỳ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV, V, nhân dân ta đã đạt được nhiều thành tựu rực rỡ trên tất cả các lĩnh vực; nhưng cũng phải trải qua không ít những khó khăn thử thách và bộc lộ nhiều yếu kém; nguyên nhân của những tồn tại, yếu kém đó có cả chủ quan và khách quan.

Trong bối cảnh chung của đất nước ta đang tìm tòi con đường đi lên chủ nghĩa xã hội, Đảng bộ và nhân dân các dân tộc Sơn La trong qúa trình thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thữ IV, V và các Nghị quyết của Đại hội tỉnh Đảng bộ lần thứ IV, V,VI,VII, cũng đã đạt được nhiều tiến bộ và thành tựu; nhưng cũng phải đối mặt với nhiều khó khăn thử thách và bộc lộ nhiều yếu kém.

Hậu quả của những khuyết điểm yếu kém đó đã làm cho đất nước ta nói chung, Sơn La nói riêng từ giữa những năm 1980 lâm vào khủng hoảng trầm trọng; đến năm 1985 Khoán 100 (theo Chỉ thị 100 của Ban Bí thư Trung ương ngày 13/1/1981 về Khoán sản phẩm cuối cùng đến nhóm và người lao động) đã bộc lộ nhiều hạn chế, trực tiếp tác động đến đời sống và sản xuất của người lao động;  đầu năm 1986, cả tỉnh có 15 vạn dân thiếu đói, trong đó 4 vạn người bị đứt bữa; gần 1vạn lao động không có việc làm ổn định; nhân dân của 22 xã thuộc 5 huyện di dân lòng hồ sông Đà cũng lâm vào thiếu đói; 18 vạn dân trong tỉnh thuộc diện phải vận động định canh định cư; hơn 80 % dân số trong tỉnh sống dựa vào sản xuất nông nghiệp; hệ thống lưu thông phân phối rối ren, hàng hoá khan hiếm; cửa quyền và tệ nạn xã hội trầm trọng…[5, tr.135].

Trong hoàn cảnh đó, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (15-18/12/1986) họp tại thủ đô Hà Nội đã đề ra đường lối Đổi mới. Dưới ánh sáng của Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI và Nghị quyết Đại hội tỉnh Đảng bộ lần thứ 8 (16-23/10/1986), Đảng bộ và nhân dân các dân tộc Sơn La bước vào công cuộc Đổi mới mà nhiệm vụ trọng yếu trước mắt là tập trung giải quyết vấn đề lương thực và hàng tiêu dùng.

Trong nông nghiệp, “Khoán gọn” (hay còn gọi là Khoán 10) theo tinh thần Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị ngày 5/4/1988 thực sự đã được triển khai và đi vào cuộc sống. Tiềm năng đất đai, lao động, các ngành nghề không ngừng được khai thác, phát huy; cơ cấu cây trồng vật nuôi, mùa vụ từng bước chuyển đổi phù hợp với điều kiện của địa phương. Đến tháng 5/1988, riêng khu vực thị xã đã có 31/62 hợp tác xã áp dụng cơ chế khoán gọn; đầu năm 1989 toàn tỉnh có 250 hợp tác xã (chiếm 20% số hợp tác xã) thực hiện cơ chế khoán gọn [5, tr.154]. Với cơ chế khoán gọn, hoa lợi của người sản xuất được đảm bảo, quyền tự chủ trong sản xuất được phát huy, do đó phong trào thâm canh tăng vụ, phát triển kinh tế gia đình trở nên sôi nổi. Đến 1990 sản lượng lương thực quy thóc toàn tỉnh đã đạt 16.95 vạn tấn; diện tich cây công nghiệp được mở rộng, có trên 600 ha chè, 100 ha cà phê, các loại cây công nghiệp khác diện tích đều tăng khá…[5, tr.170]

Từ tháng 8/1987, một số cơ sở sản xuất, dịch vụ trên địa bàn tỉnh bắt đầu chuyển đổi từ “cơ chế bao cấp” sang “cơ chế thị trường”, thực hiện hạch toán kinh doanh theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Nhiều đơn vị sản xuất được kiện toàn lại cho phù hợp với yêu cầu mới, năm 1988, tỉnh Sơn La quyết định sát nhập ba sở: Sở Nông nghiệp, Lâm nghiệp và Thuỷ lợi; Ban quản lí ruộng đất, Ban định canh định cư thành Sở Nông-Lâm nghiệp, trong 28 phòng ban của ba sở được rút gọn chỉ còn 6 phòng ban trực tiếp quản lí, chỉ đạo cấp cơ sở… Sau khi được tổ chức sắp sếp lại, các đơn vị từng bước điều chỉnh hướng sản xuất, mở rộng kinh doanh; hướng phát triển chuyên môn hoá kết hợp với kinh doanh tổng hợp ngày càng được phát huy…

Tuy những thành tựu đạt được còn thấp, tốc độ còn chậm chưa đáp ứng yêu cầu của công cuộc Đổi mới và thực tiễn; nhiều vấn đề bức thiết vẫn chưa được giải quyết… nhưng, qua thực tế những năm đầu tiến hành công cuộc Đổi mới Đảng bộ và nhân dân các dân tộc Sơn La đã đúc rút được nhiều kinh nghiệm quí báu để tiếp tục đưa sự nghiệp cách mạng tiến lên.

Từ năm 1991, mặc dù tình hình quốc tế có những diễn biến phức tạp (nhất là sự kiện Liên Xô tan rã đã trực tiếp tác động đến tình hình cách mạng Việt Nam; các thế lực đế quốc tay sai lại thừa cơ tập trung chống phá cách mạng nước ta từ mọi phía), trên địa bàn Sơn La thiên tai diễn ra trầm trọng, trận lũ lịch sử đã cuốn trôi trên 600 ngôi nhà, phá huỷ hầu hết cơ sở hạ tầng của thị xã Sơn La và các địa phương lân cận… Thế nhưng, Đảng bộ và nhân dân các dân tộc Sơn La vẫn vững vàng trên con đường Đổi mới và tiếp tục giành được những thắng lợi to lớn trên tất cả các lĩnh vực.

Thành tựu nổi bật nhất mà Đảng bộ và nhân dân các dân tộc Sơn La đạt được trong thời kỳ này là sự hình thành các mô hình kinh tế trang trại gia đình, làm ăn hiệu quả. Năm 1993, toàn tỉnh có 3.756 trang trại gia đình qui mô từ 1-6,5 ha; năm 1995 có trên 4000 trang trại làm ăn có hiệu quả; giống mới được đưa vào gieo trồng trên 70% diện tích, năng suất lúa và hoa màu tăng từ 1,8-2,5 lần [tr.189]. Đến năm 2000 sản lượng lương thưc của tỉnh đạt 23 vạn tấn, tăng 5 vạn tấn so với năm 1995; an ninh lương thực được bảo đảm. Đối với lâm nghiệp, công tác giao đất giao rừng cho các hộ nông dân đem lại hiệu quả cao; trong 5 năm 1996-2000 trồng rừng theo dự án đạt gần 5 vạn ha tăng gấp 4 lần so với 5 năm trước nâng độ che phủ của rừng từ 15,1% năm 1995 lên 25,1% năm 2000 [5, tr.183,209].

Có thể nói, đây là một kỳ tích của Đảng bộ và nhân dân các dân tộc Sơn La đạt được trong việc tập trung giải quyết vấn đề lương thực, ổn định đời sống nhân dân. Lần đầu tiên trong lịch sử, tình trạng đói kém thiếu lương thực – căn bệnh kinh niên của các dân tộc miền núi nói chung, Sơn La nói riêng đã được giải quyết.

Nhờ ổn định vững chắc lương thực, chăn nuôi gia súc, gia cầm phát triển mạnh mẽ theo xu hướng: đa dạng hoá vật nuôi, tận dụng các sản phẩm nông nghiệp, công nghiệp giống, chế biến thức ăn vi sinh…tạo được nguồn thực phẩm đa dạng phong phú, bảo đảm được sức kéo trong nông nghiệp và góp phần xuất khẩu.

Cùng với những thành tựu trong việc giải quyết vấn đề lương thực, công nghiệp và thủ công nghiệp cũng có những chuyển biến tích cực. Nhiều xí nghiệp mới được xây dựng và đi vào hoạt động có hiệu quả như: nhà máy xi măng Chiềng Sinh công suất 8,2 vạn tấn /năm; nhà máy gạch tuy len Chiềng Sinh; nhà máy đường Mai Sơn… Công nghệ sản xuất của các xí nghiệp được đổi mới, ba cụm công nghiệp tập trung được hình thành: Cụm công nghiệp – nông nghiệp Mộc Châu, với sản phẩm chính là chè, sữa, bò; cụm công – nông nghiệp Mai Sơn với sản phẩm chính là mía đường, ngô, chè; cụm công nghiệp vật liệu xây dựng Chiềng Sinh (thị xã Sơn La) với sản phẩm chính là xi măng, gạch tuynen, ngói xi măng tấm lợp. Năm 2000, chè thành phẩm của Sơn La đạt 2000 tấn, tăng 52%; cà phê nhân sơ chế tăng 11%; đường kết tinh đạt 8020 tấn; xi măng đạt 60.000 tấn, tăng gần 30 lần; ngoài ra ở cả khu vực đô thị và nông thôn nhiều ngành nghề thủ công như chế biến, xay xát lương thực, sửa chữa xe máy, đồ điện tử, may mặc, sản xuất vật liệu xây dựng… cũng đã được hình thành…

Các lĩnh vực dịch vụ, bao gồm thương mại, cung ứng vật tư kỹ thuật, vận tải, tín dụng hoạt động rộng khắp trên địa bàn tinh. Hoạt động dịch vụ - thương mại đã phát huy tác dụng thúc đẩy sản xuất hàng hoá và sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế phát triển nhanh, làm thay đổi bộ mặt cả thành thị và nông thôn.

Trong lĩnh vực văn hóa xã hội, giáo dục và y tế; năm 2000 có tổng số 55% số hộ gia đình đạt tiêu chuẩn văn hoá; sóng truyền hình đã bảo đảm phủ trên 60% số xã trong tỉnh; 141/201 xã đã được sử dụng lưới điện Quốc gia. Số hộ nghèo đến năm 2005 đã giảm nhanh chóng còn 11% [3, tr.204].  Năm 2005, cả tỉnh có 8/11 huyện thị xây dựng được các trung tâm văn hoá và 1600 đội văn nghệ; báo Nhân dân, Báo Sơn La, đài truyền thanh, truyền hình đã tới được các bản vùng sâu, vùng xa. Hệ thống giáo dục phổ thông được củng cố tăng cường, nhiều trang thiết bị phục vụ dạy và học được trang bị mới; năm 1999 Sơn La được công nhận đạt chuẩn Quốc gia về Phổ cập giáo dục Tiểu học – Xoá mù chữ; năm 2007 được công nhận hoàn thành Phổ cập giáo dục Trung học cơ sở; 100% các xã trong tỉnh đều có trường học kiên cố, số hộ nghèo giảm còn 11%. Đến năm 2007, 100% số xã trong tỉnh đã có trạm y tê, trong đó 71,4%  số xã có nhân viên y tế; nhiều trung tâm y tế được đầu tư xây dựng mới…

Trên cơ sở của thành tựu đạt được những năm qua, từ năm 2006 quán triệt Nghị Quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X, Đảng bộ và nhân dân các dân tộc Sơn La tiếp tục công cuộc Đổi mới, triển khai, thực hiện Qui chế dân chủ ở cơ sở và cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” của Bộ Chính trị. Thực hiện các chương trình kinh tế xã hội, như: tiếp tục chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo xu hướng hàng hoá nhiều thành phàn; chú trọng phát triển các vùng chuyên canh lớn, nhất là các vùng trồng cây cao su; tăng tỷ trọng công nghiệp dịch vụ trong cơ cấu kinh tế; thực hiện tốt các chính sách xã hội xóa đói giảm nghèo; đẩy nhanh và hoàn thành công tác di dân phục vụ nhu cầu xây dựng nhà máy thuỷ điện Sơn La; phấn đấu đến năm 2010 đưa Sơn La trở thành tỉnh phát triển khá của các tỉnh miền núi phía Bắc.

Có thể nói, thực hiện lời dạy của Người, 50 năm qua Đảng bộ và nhân dân các dân tộc Sơn La đã đoàn kết một lòng, tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng -Chính phủ, phát huy chủ nghĩa anh hùng cách mạng cùng nhân dân cả nước xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội, đánh thắng đế quốc Mĩ xâm lược, thực hiện công cuộc Đổi mới, biến mong ước của Chủ tịch Hồ Chí Minh thành hiện thực “Thắng giặc Mĩ ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay”.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

 

  1. Bác Hồ với Sơn La, Ban Tuyên Giáo Tỉnh uỷ Sơn La xuất bản năm 1986.
  2. Đinh Xuân Lâm (Chủ biên), Nguyễn Văn Khánh, Nguyễn Đình Lễ, Đại cương lịch sử Việt Nam, Nhà xuất bản Giáo dục - Hà Nội, năm 1998
  3. Nhân dân các dân tộc Sơn La làm theo lời Bác, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia - Hà Nội, năm 2005.
  4. Lịch sử Đảng bộ Sơn La (Tập2) 1954-1975, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia - Hà Nội, năm 1994.
  5. Lịch sử Đảng bộ Sơn La (Tập3) 1976-2000, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia - Hà Nội, năm 2005.
  6. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà nội, năm 2002 (Tập 4)
  7. Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà nội, năm 2002 (Tập 12)
Đã đọc 749 lần